Showing posts with label Tùy bút. Show all posts
Showing posts with label Tùy bút. Show all posts

December 18, 2012

SỰ MẦU NHIỆM TỪ XÁ LỢI PHẬT

Chiêm bái và đảnh lễ Xá Lợi Phật là một nghi lễ truyền thống Phật giáo.

Xá Lợi là kết tinh kỳ diệu sự thành đạt tâm linh, sự phát triển tột cùng của hạnh Từ Bi và trí tuệ.

Việc lưu Xá Lợi ở thế gian để chúng sinh đời sau có cơ duyên chiêm bái, cúng dường là bằng chứng hùng hồn nhất về sự hiện hữu của Đức Phật và ý nghĩa của sự tồn tại này không ngoài mục đích giúp cho chúng sanh đoạn tận mọi khổ đau, thành tựu cứu cánh giải thoát.

Chùa Phổ Đà thuộc thành phố Memphis, tiểu bang Tennessee có duyên lành được đoàn Tâm Bảo Điện Ngọc dự án Phật Di Lặc (một tổ chức với hạnh nguyện cung nghinh Xá Lợi Phật đi vòng quanh thế giới) chọn là một trong những điểm trưng bày Xá Lợi Phật và Thánh Tăng để Phật tử chiêm bái, đảnh lễ vào các ngày 9,10 và 11 tháng 11 năm 2012.


Chùa đã cung thỉnh Chư Tăng Ni ở một số tiểu bang về chứng minh, hành lễ cùng với sự tham gia đông đảo của Phật tử các nơi nhằm tăng thêm uy nghiêm và trang trọng cho buổi lễ.

Thừa hưởng nguồn năng lượng ấm ấp từ Tâm Đại từ của Đức Phật và Chư Thánh Tăng, Đạo tràng chùa Phổ Đà tổ chức Đêm Hội Hoa Đăng để hợp tâm cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới.

*****

Sự lợi lạc của việc chiêm bái Xá Lợi Phật đã được mọi người bày tỏ trong niềm An Lạc vô biên, ngay cả các cơ quan truyền thông báo chí địa phương cũng ghi lại cảm nhận này ! Riêng đối với bà Victoria Coleman - Maitreya Heart Shrine Relic Tour Director - Giám đốc Chương trình Dự án Trái Tim Di Lặc đã giải bày cảm xúc: "Thay mặt cho người sáng lập Spiritual of the Tour, Lama Zopa Rinpoche và tất cả mọi người trong nhóm chúng tôi, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và đánh giá cao các bạn và các thiện nguyện viên đã mang lại rất nhiều lợi ích cho mọi người bằng cách chào đón Xá Lợi Phật tại Memphis. Mục đích của Relic Tour là có được nhiều người đến chiêm ngưỡng và tỏ lòng kính bái đến Xá Lợi Phật... Mỗi người trong họ đã tạo duyên nghiệp lành, không chỉ cho kiếp này mà còn cho vị lai kiếp nữa, không chỉ cho mình, mà còn cho tất cả mọi người được nối kết với nhau".

Đặc biệt đối với bà Cindy Bird, một cư dân vùng Alabama, đang bị suy tim nặng, phải trốn bác sĩ, lái xe 7 tiếng để được đến chiêm bái, đã bày tỏ sự cảm kích như sau: " Tôi đã từng có cảm nhận về tôn giáo một cách sâu đậm trong cuộc đời. Xá Lợi Phật thật tuyệt vời và tràn đầy năng lượng, chỉ cần được hiện diện để chiêm ngưỡng di tích ấy là đã tận hưởng nhiều phước báu... đó là kinh nghiệm không thể diễn đạt hết bằng lời. Tình thương và lòng từ bi của Đức Phật dường như xuôi chảy trong tôi đầy An Lạc, như thể là chính bàn tay Đức Phật đã đặt lên đầu tôi..."

*****

Điểm nổi bật đáng nêu trong chương trình chiêm bái và đảnh lễ Xá Lợi là đêm Hội Hoa Đăng vào tối thứ bảy, ngày 10 tháng 11 năm 2012 đã để lại trong lòng mọi người niềm xúc động vô biên.

Trong không gian thanh tịnh và trang nghiêm của chánh điện, Chư Tăng Ni và Phật tử từ bốn phía chấp tay hướng về Xá Lợi Phật và Chư Thánh Tăng, sau lời xướng niệm hồng danh Chư Phật của Thầy chủ sám, mọi người đều lạy xuống, quên đi mọi cảm thọ từ thân, cứ thế, nhất tâm đảnh lễ.


Tất cả cảm nhận được sự xúc động dâng tràn, rúng động tâm can, có Phật tử đã rưng rưng nước mắt, phủ phục trước Xá Lợi Phật như được tiếp xúc với Tổ tiên Tâm Linh, từ một nơi xa xăm nào đó hiện về đang có mặt với con cháu thật thân thương, gần gũi.

Sau đó đêm Hội Hoa Đăng được bắt đầu bằng lễ tiếp đăng từ ánh sáng từ bi của Xá Lợi Phật, tiến về Trung tâm cầu nguyện. Trong đôi tay của các em nhỏ đến Chư Tăng và Phật tử, ánh nến lung linh, hòa với ánh lửa từ biểu tượng trái tim yêu thương trước tôn tượng Mẹ Hiền Quán Thế Âm, ánh lửa An Lạc dưới chân Đức Phật A Đi Đà, ánh lửa vui tươi từ vườn Lâm Tỳ Ni, ánh lửa trẻ trung, kỳ vọng chung quanh tôn tượng Đức Di Lặc, kể cả những ánh lửa tỏa sáng hình như đang soi rọi cõi A Tỳ dưới chân ngài Địa Tạng, cùng những ánh sáng lấp lánh trên viền cỏ lối đi ... tất cả hòa quyện, hình thành một vùng ánh sáng huyền ảo trong khuôn viên chùa, mọi người quên đi rối rắm đời thường, trong khoảnh khắc như đang lạc vào cảnh giới nào đó, chỉ có những bước chân và lời Niệm danh hiệu Bổn sư vang vọng...

Cứ thế đoàn người nhẹ nhàng tiếp bước đằng sau ánh lửa bập bùng của sáu ngọn đuốc và hai hàng thiếu nữ thướt tha duyên dáng đang tung hoa tiến vào địa điểm Cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới.

Hàng trăm ngọn nến được kết thành hình hoa sen, tỏa lên ánh sáng hiền dịu bao trọn quả địa cầu và trên đó là chim bồ câu đang sải cánh biểu tượng cho ý nghĩa buổi cầu nguyện.


Không gian thật tĩnh lặng, lời xướng bài kinh cầu vang lên, mọi người đưa ánh nến ngang đầu, rồi chầm chậm đọc theo...


Trọng tâm của lời cầu nguyện là mỗi một người mong sống trong Bình An để tâm hồn minh mẫn, không bị sự giận dữ, sợ hãi khống chế, học cách nhìn chính mình với đôi mắt trìu mến sự thấu hiểu và thương yêu, nhận diện được nguồn cội của sự giận dữ, tham ái và ảo tưởng trong thân mình, biết làm thế nào để nuôi dưỡng và tưới tẩm hạt giống của niềm vui, hạnh phúc mỗi ngày để được sống an nhiên, tự tại, thoát khỏi vòng tham luyến, sân hận.

Lời nguyện cầu kết thành một khối âm vang như đang được nguồn ánh sáng mang đi. Tất cả đều nhận chân một điều rằng khi Tâm mình được Bình An, Thế giới sẽ có Hòa Bình.

Một điều bất ngờ gây cảm kích và tạo nên không khí phấn chấn trong chùa là sáng hôm sau người ghi hình đã cho Đại chúng xem tấm ảnh, trong đó ánh lửa trên ngọn đuốc đã biến thành hình chim bồ câu rất rõ nét.

Lời cầu nguyện cho Thế giới Hòa Bình, chúng sanh An Lạc bằng tất cả lòng thành đã cảm ứng đến Chư Thiên, để có được biểu tượng hiện ra như thế .

Tâm thành ấy truyền đi từ ánh sáng Từ Bi Xá Lợi Phật để chuyển tải lời Nguyện cầu. Khi mọi người đều khởi tâm thanh tịnh để bày tỏ hạnh nguyện lớn cho tha nhân, như đã gieo nhân tốt và quả lành nhanh chóng hình thành. Đây cũng là một thực chứng về sự mầu nhiệm từ Xá Lợi Phật.


                                                                                       Nguyên Thọ Lê văn Trạch

                                                                                     

   

                                        






June 13, 2011

NĂM THÁNG


                                                 Trước khi vào truyện

Khi được tiếp xúc với văn học nghệ thuật hải ngoại, việc đầu tiên là tôi tìm đọc những tác phẩm viết về các trại cải tạo: rất nhiều người làm việc này nhưng có hai nhà văn tôi tâm đắc nhất là Phan Lạc Phúc (Sau này gom lại trong 2 tập Bè Bạn Gần Xa) và Thảo Trường với Đá Mục, Tầm Xa Cũ Bắn Đạn Thật và Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai. Mỗi trại có những hoàn cảnh, điều kiện, con người khác nhau nhưng cùng chung một chính sách: lưu đày, bóp chết hầu bao, ly gián và tẩy não .
Mấy năm nay tôi có ý đợi sẽ có vị nào đó viết về trại của tôi hoặc ít ra thì có một vài chi tiết liên quan nhưng chưa thấy, thỉnh thoảng có vài anh em khuyên tôi và cũng mới đây trong chuyến về Washington D.C, đề nghị đó được lập lại. Tôi lưỡng lự. Có thể. Nhưng viết về cái gì và bắt đầu từ đâu? Những nhân vật và sự kiện của hai tác giả trên tự nhiên lại hiện ra: Trong trầm luân khổ ải với một dã tâm tiêu diệt hoàn toàn ý chí đối kháng bởi chính sách nói trên, nhiều nơi nhiều lúc khi âm ỉ, khi bộc phát, biểu lộ cái nhân cách, cái can trường của một người quốc gia chân chính. Tôi định viết về khía cạnh đó. Trong khả năng hạn hẹp và trí nhớ còm cõi, tôi cố gắng trình bày ra với cả tấm lòng của mình trước hết như một nén hương để tưởng niệm quý anh đã chết tức tưởi ở khu rừng trai, trong đợt dịch kiết lỵ trực trùng, hoặc mang tấm thân tàn ma dại về chết trong vòng tay của gia đình...và chia sẻ với những anh còn ở quê nhà hay đang sống nơi hải ngoại đã một thời cùng nhau chịu bao nỗi đắng cay oan khuất ở trại tù Hoàn Cát.

********

      Như thường lệ gần hai tháng nay cứ mỗi buổi sáng khi cả trại tập trung ngoài sân đi lao động, tên cán bộ thẩm cung Thanh Hiền vai mang xắc cốt, tay cầm tập giấy đi vào nói gì đó với cán bộ trực trại rồi kêu tôi ra "làm việc" . Nhưng lần này tôi không được nhận  "đề luận" và giấy viết, y hỏi tôi một số vấn đề rồi chậm rãi bằng một giọng Vĩnh Linh đặc sệt: Công việc như thế là tạm ổn, sau này cần gì sẽ bổ sung thêm, hôm nay anh được giải lao. Trong thời gian gần đây trong trại xôn xao nhiều điều anh biết không? Tôi im lặng. Các anh trao đổi với nhau là trại sắp giải tán và được đưa đi làm đường sắt thống nhất, làm thủy lợi, chặt tre ở Lao Bảo, xây dựng cơ quan Công An ở Đông Hà phải không? Có thể đúng một phần, thời gian vừa qua là thanh lọc để các anh vừa khai báo vừa làm quen với lao động trong điều kiện tương đối dễ dãi . Tôi nói điều này và anh tuyệt đối giữ bí mật: để các anh có điều kiện học tập tiến bộ trong mọi trường chính quy hơn và tùy theo mức độ gây tội ác với nhân dân trong quá khứ, các anh sẽ được chuyển trại, riêng anh và một số khác được đưa đi nghiêm giam theo quy chế thời chiến. Nghe đến đây tôi hơi lạnh xương sống và đánh bạo hỏi khi nào và đi đâu, anh ta không trả lời và lảng sang chuyện khác.



      Cứ tưởng ít ra là 2 hoặc 3 hôm nhưng không ngờ khuya đó, lúc đầu nghe tiếng lao xao ở nhà bếp rồi chúng tôi bị đánh thức để chuẩn bị vật dụng cá nhân.
Núi rừng dường như thức giấc sớm hơn, tiếng chim tiếng gà cất lên từ nhiều phía, những đám mây hững hờ còn ôm lấy đỉnh núi Ba Hô, trời trong xanh và mặc dầu mới rạng sáng đã nghe được cái nóng nực của gió Lào.



Chúng tôi ngồi lặng yên bên túi đồ đạc trên sân đất với cảm giác lan man. Viên giám thị trưởng lập lại lời của cán bộ đã nói với tôi và tiếp: đất nước đã hoà bình, các anh khỏi phải đi đâu xa, mọi người lắng nghe khi đến tên của mình đứng lên bước ra ngoài.
Tất cả im phăng phắc: danh sách số 1 được dẫn vào hội trường, phần đông là tàn tật và bệnh hoạn. Sau đó chừng 20 phút danh sách số 2 được dẫn ra khỏi trại, danh sách số 3 cũng vậỵ Tôi nằm trong danh sách cuối cùng, số 4, đông nhất và cũng được một số quản giáo và Công An võ trang bảo vệ nhiều nhất. (Sau này mới biết là danh sách số 1 được cho về ngay, danh sách số 2 về Khe Mây đến 2/9/75 được thả, danh sách số 3 đi Xoa). Chúng tôi bị bắt buộc đi theo đi hình hàng dọc, cách xa nhau, hai bên CA võ trang súng AK47 cầm tay, lên đạn sẵn. Qua khỏi ngã ba đi căn cứ Carrol, chúng tôi biết là không lên Lao Bảo, ra đến chợ Cùa, rẽ phải - vị trí Đông Hà được loại bỏ - và khi qua khỏi Xoa để chuẩn bị leo dốc Làng Hạ, mọi người biết chắc chắn nơi đến là Ba Lòng. Lần đầu tiên phải đi bộ trong những địa thế dốc đồi và xa như thế, nhiều người trong chúng tôi đã ngất xỉu . Xế chiều đến làng Đá Nổi, đoàn người tả tơi thất thểu, ở ngoài nhìn vào chắc chẳn giống con giáp nào ... Chúng tôi được lệnh nghỉ chân, từ xa nơi mé rừng thấy từng nhóm bốn người trong đồng phục màu rêu xanh, mặt mũi hốc hác đang gánh những tấm ri sắt về phía trái, một số anh em thấy có người quen, kêu tên, nhưng họ lầm lũi đi, chẳng trả lời ... (đó là anh em Triệu Hải và thị xã Quảng Trị). Tất cả chúng tôi được lùa vào một căn phòng làm bằng ri sắt, kể cả chỗ nằm, cửa bị khóa lại, không ai nói với ai một lời, buổi tối nhà bếp đem cơm vào nhưng chẳng ai đụng đến. Đêm đó thật thê thảm, hậu quả của một ngày vất vả nắng gắt, uống nước lạnh, nhiều người bị tiêu chảỵ Không có cầu tiêu trong phòng, anh em tận dụng mọi phương tiện ... buổi sáng phải đợi các phòng kia đi lao động trước chúng tôi mới được mở cửa và trước khi đi phải báo cáo cán bộ ... những cầu tiêu lộ thiên không đủ chỗ cho một loạt người cùng nhu cầu.


Chúng tôi được lệnh tập họp, kiểm soát "tư trang", mọi vật dụng phải ký gởi, từ hình ảnh, thuốc men đến tiền bạc, đồ bằng kim loại ... Ông Tuynh, Giám thị trưởng đọc bản nội quy với những điều khoản nghiêm ngặt : Bất cứ lúc nào, muốn đi đâu đều phải báo cáo với cán bộ, ban đêm nằm trong phòng dậy đi vệ sinh cũng phải như vậỵ Mỗi nhóm lao động 5 người thay đổi hàng ngày có một quản giáo và một công an vũ trang đi kèm, không được tiếp xúc với bất cứ ai khác phòng: tiêu chuẩn ăn uống 9 kg kể cả độn (những điều này đúng như cán bộ Thanh Hiền đã nói). Mấy tuần sau một sự kiện xảy ra làm hoang mang, chấn động toàn trại: anh S. sau một thời gian nhiễm bệnh, đã chết, nhìn thân xác anh quấn trong chiếu đặt trên một sạp tre được bốn anh gánh đi chôn, mọi người đều nao lòng nghĩ đến bản thân mình, gia đình, vợ con ... mà rưng rưng nước mắt.
          Sau 2/9/75, giám thị trại cho biết nhà nước có chính sách khoan hồng, chúng tôi sẽ được di chuyển đến một nơi khác thoải mái hơn ... vài hôm sau được biết chắc chắn là trở lại Hoàn Cát và sẽ được tổ chức thành nhiều đội khác nhau tùy theo sức khoẻ dể vận chuyển tất cả tài sản của trại đến địa điểm mới.
     
         Tôi lúc đó chưa tới 30 tuổi, được phân loại 1 có nhiệm vụ phụ trách bộ phận lò rèn, cụ thể là kéo những xe cải tiến chở sắt thép ... lên dốc đã khó, xuống dốc lại càng cực nhọc hơn ... Gần nửa đêm, chúng tôi đến trại Xoa, được gặp lại anh em, cán bộ lúc đó chắc cũng đã thấm mệt, chẳng để ý gì nữa, chúng tôi tự do tâm sự, trao đổi tin tức ...


Sáng hôm sau lên đến Hoàn Cát, cảnh quan đã đổi khác, chúng tôi được ở phía ngoài suối, bên kia chỗ trại cũ bây giờ đã có những dãy nhà xây lợp tôn cho cán bộ, khu vực kế đó đã được san ủi dọn mặt bằng, tôi liên tưởng đến sự phát triển quy mô của một trại tù lớn, ít ra là cấp tỉnh.


Chiều hôm đó, lệnh tập họp được ban ra, mọi người lót dép ngồi trên cỏ nghe cán bộ Hà lên lớp. Ông lập lại chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước đối với những "ngụy quân, ngụy quyền có nợ máu với nhân dân" đáng tội treo cổ vậy mà các anh không ý thức được điều đó nhiều người còn mơ hồ, thương nhớ Đế quốc Mỹ, ai trong các anh trên đường từ Ba Lòng ra đã hát hò:


 
Sau đó ông ta phân tích diễn giảng rất lớp lang để buộc tội. Mấy tuần sau việc này được tái Sau đó ông ta phân tích diễn giảng rất lớp lang để buộc tội. Mấy tuần sau việc này được tái diễn, nhưng từ lúc mở đầu cho đến nửa tiếng sau chẳng ai hiểu mục đích của ông là gì. Ông kể chuyện những công nhân khai mỏ ở Liên Xô, quặng khai thác xong được đưa vào nhà máy chế tạo xe hơi, những chiếc xe xuống tàu thủy đến cảng Hải phòng, được phân phối cho Bộ Nội Vụ, Bộ chuyển đến Công an Bình Trị Thiên, bên cạnh đó, nhà nước ta thắt lưng buộc bụng bỏ tiền mua xăng của Trung Đông ... Trại được tỉnh ưu ái, thương các anh vất vả, cho xe vào tận Ba Lòng để chở ngọn khoai ra trồng, tạo điều kiện cho các anh bồi dưỡng có sức khoẻ để lao động, học tập tốt thế mà các anh vô ý thức bỏ lại ngoài đồng khô héo, có ý đồ phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa! Lúc đó chúng tôi mới vỡ lẽ là một số anh em trồng khoai lỡ quên không mang ngọn thừa về trại, ông ta đi kiểm tra bắt gặp !!!  Lúc đầu chúng tôi được ở trong một nhà ri rất chật chội, nóng nực, tổ chức thành các đội sản xuất, kiến thiết ... Những số trẻ được xếp vào đội đi rừng để chặt cây làm doanh trại.

Một chiều nọ chúng tôi được lệnh sẽ có giám thị trưởng lần đầu đến nói chuyện. Sau khi lập lại điệp khúc khoan hồng nghe đã nhàm tai, ông ta nói: tôi biết các anh được đào tạo trong những trung tâm, học viện dạy cách giết người và chống phá cách mạng rất chính quy hiện đại, bản thân tôi cũng đã qua nhiều trường đào tạo tình báo ở Trung Quốc, đặc biệt là trường Nhận Dạng. Chiều nay một số các anh đi rừng về vào khu sản xuất của bộ đội ở trong "Sư" để hái hoa màu, tôi nhận ra từng người, đừng chối, phải tự giác, sau đó là bôi nhọ: các anh đã quen thói ăn bám, bóc lột sức lao động của người khác ...     

Tôi nghiệm ra một điều về phương thức tẩy não của Cộng Sản là thiết lập một hệ thống ăng ten dày đặc, theo dõi mọi việc làm và lời nói của tù nhân, khi  "phát hiện" có gì gọi là sai trái sẽ kịp thời báo cáo, Cán Bộ căn cứ vào đó suy diễn phóng đại vấn đề để bôi nhọ, buộc tội, lập đi lập lại nhiều lần. Từ khi trại Hoàn Cát trở thành một trại của Bình Trị Thiên, giam cả tù chính trị lẫn hình sự do ông Nguyễn Quang To làm giám thị trưởng, ông thường xuyên đảm nhận công việc này ... thao thao bất tuyệt. Một hôm có người sửa câu Kiều:
            Trăm năm một cuộc nhổ râu
            Những điều trông thấy mà đau tới cằm
            
 
          Trại lại được triệu tập ... lần này ông nhắc đến những Trần thị Tâm, Mẹ Mít, dũng sĩ  Phường Sắn và so sánh nỗi đau của bản thân họ với chúng tôi ... được tha tội chết. Câu chuyện được lập lại đến khi có đề tài mới . Anh TT QN một hôm đi khai hoang đã ngẫu hứng:
            Quê ta đâu phải chốn này
            Bởi vì lạc bước tới đây phải mần!


        Thế là được ông ta giảng: các anh lao động để tự nuôi chưa đủ, nhà nước phải lo bao nhiêu thứ nữa nào là quần áo thuốc men, chất tươi ... các anh không cám ơn còn than van ...
Như để trưởng trại có đề tài mới cho hấp dẫn, anh X. một hồi chánh viên, người Bắc, đã tự thán:


            Bực mình mà chẳng nói ra
Muốn đi ăn cỗ người ta không mời!
Ông lại phán: Anh phản bội đảng, nhân dân, đồng đội, quê hương anh, tội ấy đem bắn không thương tiếc, cách mạng đã tha cho vào đây ăn học, anh còn bực nỗi gì?
Trong mấy trăm tù nhân của QT, chỉ có một người nữ, bà HTT, người làng BG sinh trong một gia đình khoa giáo, một người đàn bà kiên cường bộc trực. Lúc mới vào trại, chưa có nơi ở riêng, công an cho làm tạm một chỗ gần ngoài cổng. Bà là vợ một cán bộ tập kết, có mấy người con. Hằng đêm bà kêu gào HCM thiếu sáng suốt, không thấy công lao của bà ở lại nuôi con, cho chồng tham gia cách mạng, đến khi thành công lại bắt giam tù ... Tôi có một đồng sự, quê Triệu Phong, anh LVT, gọi vợ Lê Duẫn bằng dì ruột, vừa trở lại quê, gặp dịp bà này về làng, anh theo mẹ đến thăm, tưởng là đi sẽ giúp khỏi đi tù nhưng khi nghe anh khai báo ban ngành phục vụ, bà bảo kiếm trại nào gần đi học một thời gian tốt rồi về. Thế là anh được lên Hoàn Cát. Một hôm anh tâm sự:
Trời thì rộng mà lòng người quá hẹp
Cũng không tránh khỏi quy luật trấn áp của cách mạng!


Nhà trưởng của tôi, anh LD một người vui tánh năng nổ, lúc nào đi làm về cũng dẫn đi vào trước, một hôm trong lúc trò chuyện, có người nói không biết chừng nào mình được về. Anh lắc đầu: "mù điên điến" (tức xa tít mù khơi) thế là bị nạo đưa vào giam với tù hình sự với tội danh không tin tưởng vào chính sách khoan hồng của đảng. (Một số các em hình sự này có lần nói đùa: mấy chú là ngụy quân ngụy quyền, còn cháu là ngụy tặc).
       
          Ở tù cứ trông đến ngày chúa nhật để nghỉ ngơi ... nhưng đôi lúc cũng phải đi làm, có anh bực mình: đưọc ngày chúa nhật, hắn cũng lấy! Thế là chúng tôi được lệnh ăn cơm sớm, lên hội trường để nghe lại những điệp khúc cũ ...


Trong trại có một công an người Thượng, tên Mười là người không cho tù đi lao động trong lúc trời mưa, ngay cả lúc đang làm cũng đánh kẻng cho về và có anh đã xuất khẩu thành thơ:
Cải tạo nhờ trời mưa
Thợ cưa nhờ đường bìa
Sau đó thì quý vị đoán được điều gì xảy ra

        Hình như sau vụ Phạm Tuân lên vũ trụ, trại nào cũng có nhiều trường hợp bị cùm, kiểm điểm vì "ăn nói linh tinh". Ở Hoàn Cát không thấy có ai bị phát hiện, mặc dầu anh em xầm xì: Phạm Tuân làm ét ; ngồi sau ghe đ ... Hôm lên hội trường nghe anh LVT đọc bài thơ  "Gởi một nhành Xuân" của Tố Hữu, trong đó có đoạn:
Bữa cơm khoai ít cá nhiều rau
Mà ngăn sông làm điện, khoan biển tìm dầu

           Chân dép lốp mà lên tàu vũ trụ

Khi về phòng anh TB ghé vào tai tôi nói nhỏ:

            Chân dép lốp mà cũng đòi lên tàu vũ trụ


        Anh TB bị bắt trong vụ Phục Quốc (Mậu Ngọ), người Thừa Thiên, thường kể cho tôi nghe những chuyện cười ra nước mắt sau 75, nhất là chuyện tem phiếu: hàng năm chính quyền cũng bán vải cho dân, nhưng người có áo thì không có quần, được áo thun thì không có quần lót, nên trong dân gian có câu:
Bắt ở trần phải ở trần
Cho mai dô mới được phần mai dô!

        Mấy lần trên không có ai nghe, nhưng một hôm đi rừng, anh lượm được cái ống liên hợp truyền tin, bèn cầm lên: "Hoàn Cát gọi An Cựu, nghe rõ trả lời", khi đưa ra kiểm điểm, bị quy kết cho không biết bao nhiêu tội!
       
         Sau giai đoạn "dự bị" học lý thuyết và khai báo ở Hoàn Cát rồi Ba Lòng, chúng tôi đã "thu hoạch" nên thỉnh thoảng mới có cán bộ "trên" ra dạy. Một hôm, phó Công An tỉnh  - tên Vĩnh Thành - đến để xác định lại chính sách khoan hồng trước sau như một của đảng ...  Anh LVC kể lại "tay này năm 72, tôi đã đụng rồi: trong một lần răn đe chúng tôi ông ta nói: các anh chỉ là những thứ bụi bặm... tôi trả lời: có thể, nhưng những hạt bụi đó bay vào mắt cũng xốn lắm cán bộ ạ ! Sau lần đó thì anh LVC bị cùm và có lẽ do những ý tưởng như thế lâu lâu lại bộc phát nên anh đã bị giam từ năm 72 cho đến sau này, mặc dầu anh chỉ là cán bộ Nhân dân tự vệ ...
       
          Trong trại có độc nhất một người Quảng Nam, anh HN, được ghi nhận là "phản kháng có hệ thống", anh gọi chính sách thi đua của trại là "đem kẹo phỉnh con nít", một trưa hè, nhiều anh cởi trần nằm sải tay trên rỉ sắt, anh nói với mấy người bên cạnh: ở đây y tá quá khoẻ, mỗi lần chích ven chẳng khó nhọc gì ... qua mấy năm đầu thập niên 80, đã có nhiều đợt ra trại, anh nói một mình: đến lượt mình thì có lẽ ra khỏi cổng trại, kiếm tổ ong nào đưa mặt cho đốt để về vợ con mừng ... Ra trại về quê anh bị buộc phải đi kinh tế mới ở Tây Nguyên, bị ruột thừa cáng chưa đến trạm xá đã chết!


Ở tù, mỗi sợi tóc là một cái tội, chỉ một lời nói bâng quơ, vô tình như hỏi một người bạn đang đọc báo Nhân Dân: Có gì hay không, lãnh phần ăn với mắm chợp Cửa Việt: Xương cha Xương Ông chi mà dữ ri, huýt gió một bản nhạc Phật Giáo, phân tách hành khách và bộ hành hay chỉ cái loa của Trung Cộng, khai thác đá 1 + 2 chất thành khối bảo giống hàng không mẫu hạm ... khi đưa ra kiểm điểm đều có vấn đề, đôi lúc còn gán cho nhiều bản án nữa ...


Những sự kiện trên xảy ra thường là trong khu vực hạn chế, ăng ten (kẻ làm chỉ điểm) thu được báo cáo lên, và khi cán bộ xuống tham dự lèo lái cuộc họp, để khỏi làm phiền anh em cần được sự nghỉ ngơi, đa số đều " khắc phục rút kinh nghiệm, xin hứa lao động tốt học tập tốt" ... Nhưng có một người làm ngược lại, anh trình bày những ý kiến đối kháng của mình ở chỗ đông người và trong những buổi kiểm thường có những lập luận vững chắc sắc bén để bảo vệ những giá trị của ý kiến ấy, không bao giờ nhận lời, một người mà qua bao lần kiểm soát đồ dùng cá nhân, vẫn giữ được bộ quân phục với đầy đủ phù hiệu, cấp bậc và trong hoàn cảnh tù tội đã ngang nhiên thêu sau lưng áo mình hàng chữ: “Quỷ trạng tái thế, diệt đế trừ gian", sau bao nhiêu lần bị cùm nhốt trong xà lim, cán bộ cũng phải ngạc nhiên hỏi: Anh không muốn về với gia đình sao ? Anh đã thẳng thừng trả lời: "Không, bởi trình độ cán bộ địa phương thấp lắm, không hiểu được chính sách của nhà nước, tôi về rồi cũng bị đưa lên lại... Nhắc đến Anh hôm nay, chẳng ngại ngùng gì để phải viết tắt tên Anh, dù sao thì Anh cũng chẳng còn trên thế gian này, tôi viết đầy đủ họ tên bằng chữ hoa nắn nót: NGUYỄN VĂN CỬ.


Có lẽ ít người quên hình dáng một ông già hàng ngày với đôi triêng gióng (đôi gánh) lang thang trên mọi nẻo đường để gom phân trâu bò, có hôm anh bảo: Công nhận ông già tao hồi xưa là một chiêm tinh gia đại tài, khi sinh tao ra đã biết được nghề ngỗng sau này nên mới đặt tên là Cử: tao con đầu, dứt cử (nói lái). Tôi bắt đầu chú ý đến Anh vào mùa đông năm 1977, hôm đó nhà trưởng đi họp về, cầm theo tờ báo Nhân Dân và lập lại lời của ban điều hành trại: Nhân kỷ niệm 60 năm cách mạng tháng 10, TBT Lê Duẫn có đọc một bài diễn văn rất quan trọng, các đi tìm một số người có trình độ, nghiên cứu để phổ biến đến mọi người trong đi mình. Tôi nghe tiếng anh CỬ : Ngày xưa một vị vua khi ban ra một lời gì, tất cả thần dân từ thượng tầng đến hạ cám đều hiểu, bây giờ một chính quyền gọi là của Nhân Dân mà tổng bí thư nói phải có người dịch lại thì đâu phải là minh quân!". Mọi người giật mình, nhà trưởng lập tức đi báo cáo và sau đó anh bị cùm ...


Một hôm có người kiểm điểm, Anh vi phạm nội quy vì ăn lá bánh chưng, anh không phản đối nhưng nói lại rằng: "Tôi nghĩ là chẳng vi phạm gì cả, hồi tôi đi học Thầy dạy trong vỏ trái đu đủ có loại mủ rất độc, thế mà ở đây trại vẫn để nguyên vỏ nấu canh, lá bánh chưng khi nấu nhiều giờ bao nhiêu độc tố nếu có đã thải ra ngoài, một lượng protein từ nếp thấm vào lá, chưa kể là một vài hạt nếp ẩn núp đâu đó. Tôi ăn sẽ tăng lượng calorie để lao động tốt hơn...  đúng ra các anh phải biểu dương ..."


Trong một đêm cả trại được xem phim Fidel Castro thăm vùng giải phóng. Khi về đến phòng anh nói lớn: Ông bà mình xưa có dạy:

            Gà rừng, chim cú, heo rú, chớ nuôi

           Râu xồm, lông ngực, chớ chơi bạn cùng "

Da vàng mũi tẹt thì đem nhốt, còn râu xồm lại ôm hôn ...
Nhà trưởng (đội trưởng) cấp thời báo cáo trực trại, được chỉ thị tối mai cán bộ giáo dục sẽ xuống làm việc. Sau khi chủ tọa tường trình sự kiện, trại viên phát biểu trước. Anh CỬ bị kết tội: nói xấu lãnh tụ, phá hoại tinh thần quốc tế vô sản với nước Cuba anh em, đứng đầu là Fidel Castro, người đang cầm lái ba giòng thác cách mạng ở Châu Mỹ, đề nghị trại có những hình phạt đích đáng, đến lượt mình, anh trình bày: Thưa cán bộ, đúng là tôi đã nói như thế, nhưng trước khi đọc hai câu tục ngữ ấy tôi xác định là ông bà mình xưa dạy, nếu như hôm nay quí vị phê bình tôi này nọ, thì phải kết án ông bà mình trước. Cả phòng nhao nhao lên, cán bộ bảo: anh phải thành khẩn nhận tội để được sự khoan hồng.


Tôi không có tội gì cả, đó là những điều chí lý mà cả cuộc đời tôi đã thể nghiệm đúng, tôi không thể phản bội chủ nghĩa thánh hiền ... Cán bộ quát: Anh ngoan cố mang tư tưởng chống đối có hệ thống, không chịu cải tạo . Anh đứng dậy và dõng dạc tuyên bố: La raison du plus fort est toujours le meilleure!... (Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng), tôi không nói nữa. Lần này anh bị nhốt xà lim lâu hơn và bị hạ mức ăn xuống 6 kg. Khi về phòng, thân xác tiều tuỵ, ở hai cổ chân bị cùm, thịt da thối nát hôi hám.. nhưng khi vết thương chưa thành sẹo và sức khoẻ chưa phục hồi hẳn, một ngày trời mưa, anh vừa vá lại chiếc áo tù đã rách vai, vừa ngâm vịnh:

Còn trời còn đất còn non nước

Có lẽ ta đâu mãi thế này ...

          Đêm kiểm điểm ấy kéo dài tới khuya, ngoài cán bộ quản giáo, có cả cán bộ lãnh đạo trại xuống dự, nhiều người phân tích:
- Trời đất đây là đế quốc Mỹ, nó còn đó và anh trông chờ một cuộc giải cứu như đã xảy ra ở Sơn Tây trước đâỵ
- Anh được CIA gài lại, đây là một lời nhắn qua anh để truyền đạt đến mọi người, ta không phải một mình mà là tất cả, nhìn lại quá trình sai trái của anh ta thấy âm mưu của Đế Quốc Mỹ rất là thâm độc, anh được sử dụng như một ngọn lửa để hâm nóng tưởng đối kháng, chống phá cách mạng; nhiều ý kiến nữa, có người đề nghị đưa ra toà.


Đến lượt anh CỬ: Xin lỗi cán bộ, mấy người vừa phát biểu đều dốt, chẳng biết gì về văn học sử. Trước khi phân tích các anh phải rõ xuất xứ của nó: Hai câu này nằm trong bài thơ Than Nghèo của Nguyễn Công Trứ lúc ông bị hàm oan cất chức phải về làm ruộng ở Thái Bình ... ông tin tưởng vào sự hiển linh của trời đất và một ngày nào đó triều đình sẽ hiểu rõ nỗi oan khuất của ông ... Khi đọc, tôi nghĩ đến hoàn cảnh đất nước hiện tại, ta đây là VN, sau chiến tranh giang sơn bị tàn phá, nhưng với lòng yêu nước, với bản cất thông minh cần cù, sáng tạo, chúng ta sẽ xây dựng lại, VN sẽ lừng danh trên thế giới. Chính những gì anh vừa phát biểu mới sai trai, suy bụng ta ra bụng người.
- Tại sao anh không đọc thơ cách mạng mà đọc mấy tay phong kiến vớ vẩn? Thơ  Tố Hữu nhiều và hay lắm.
- Tôi không biết, đây là những gì cha tôi dạy, nếu cán bộ không cho thì từ nay trở về sau những gì từ đời cha tôi trở về trước, tôi không nói nữa, tôi chỉ nói những gì từ cha tôi trở về sau. Hai lần nhắc đến chữ cha, anh nắm tay đưa thẳng vào mặt cán bộ. Lần này anh được tháo cùm trước thời hạn kỷ luật để nhập viện!...


Lẽ ra thì Anh khỏi phải tập trung cải tạo, anh chỉ là một hạ sĩ quan truyền tin đã giải ngũ, nhưng sau 75 nhân hôm huyện Hải Lăng tổ chức đua thuyền trên sông Mỹ Chánh, anh ngang nhiên hạ cờ đỏ sao vàng trên cầu xuống với lý do là cờ bị gió đánh rách, trên QL hàng ngày du khách nước ngoài vô ra thường xuyên, để vậy nhục quốc thể ... Anh bị bắt và giam chung với hình sự nhưng sau đó chuyển qua với tù chính trị.



Lúc tôi ra trại anh vẫn còn đó, không biết ở thêm mấy năm nữa. Trở về địa phương, lăn lộn với việc kiếm ăn trong hoàn cảnh bị quản chế, chẳng biết gì bên ngoài, đến lúc nhận tin về anh là một tin buồn: anh đã chết. Bản chất phản kháng trong anh không thay đổi và đối với cán bộ CS địa phương đó là điều không thể chấp nhận bởi vì chung quanh còn nhiều thành phần quần chúng cần phải giáo dục ... Anh vào phòng thuế vụ nhìn trước nhìn sau rồi tấm tắc khen: (Ông thầy phong thủy nào coi hướng nhà thật tốt, chỉ có tiền vô chứ không có tiền ra), một hôm anh mang chuối ra cho bạn, ghé vào phòng thuế vụ và mời nhân viên thu thuế ăn, anh cũng ăn với họ nhưng ăn nguyên vỏ rồi bảo: Tụi bây phải ăn như tao đây nè, chứ đâu cái thứ vừa bóc vừa lột!... Anh không bị đưa lên trại, bọn lưu manh (?) đã đón đường đánh anh, tuổi già còm cõi, anh lâm bệnh rồi qua đời ...


Trên đường về nơi an nghĩ cuối cùng, không biết có người bạn tù nào đi bên cạnh anh hay anh vẫn cứ thui thủi một mình như những năm tháng đày ải trước kia, lang thang trên đồng cỏ, sườn đồi, đêm về một mình tả xung hữu đột, vững vàng sắt son với cái tâm của kẻ sĩ, không chịu khuất phục trước bất cứ bạo lục nào: ngẩng cao đầu, hiên ngang dõng dạc. Buồn thay chẳng có tiếng nói nào đứng về phía anh, chẳng có ai có được cái khí phách như anh cả. Bây giờ cho dù bao nhiêu lời trần tình cũng không khỏa lấp được những cảnh bẽ bàng ngày ấy!


Thời gian đi thật nhanh, mới đó mà đã trên 20 năm, nhớ những ngày khốn khổ cực nhọc ở trại tù, buổi chiều cứ chờ cơm nước xong, nằm sải người để thân xác rã rời được ngơi nghĩ, tâm trí tự do bay bổng nơi này, chốn nọ ... chẳng ai thích thú gì khi được lệnh phải lên hội trường hay ra sân trại cho dù để xem phim hoặc văn nghệ. Nội quy của trại họp kiểm điểm mỗi tuần một lần, riêng nhà tôi hầu như hằng đêm ... lúc đó mọi người đều bực bội, thậm chí chán ghét. Bây giờ nghĩ lại thấy ận hận và hổ thẹn vô cùng.


Tháng năm qua đi, mọi vất vả, ray rứt đều quên hết, thỉnh thoảng gặp nhau, nhắc lại chuyện cũ là nhắc đến các anh: những người trong hoàn cảnh đày ải khốn cùng nhất vẫn giữ trọn khí tiết, phong thái của một chiến sĩ, các anh lại chỉ là người bình thường: những hạ sĩ quan, nhân viên cảnh sát, cán bộ bình định, chiêu hồi ...
Trại tù là thước đo phẩm chất con người, bởi khi vào đó rồi, anh chẳng còn gì ngoài thân xác và nhân cách, thân xác thì ai cũng giống nhau, nhưng phẩm cách được lượng giá trong lối hành xử hàng ngày với thù, với bạn.


Những sự kiện vừa nêu, thoạt trông có vẻ rời rạc, đơn điệu, nhưng nếu đưa lên trên bức tranh toàn cảnh thì đó là những đốm sáng lấp lánh trong bóng đêm dày đặc, cũng có thể là thông điệp để nhắn với những kẻ thắng cuộc rằng dù áp dụng bất cứ phương thức trả thù nào, chúng vẫn không thể tẩy não, cải tạo được những con người mặc dầu thua cuộc vẫn giữ được tiết tháo nhân bản của lý tưởng mà mình đã phụng thờ, phục vụ.
                                                                       
                                                                                

CHUYỆN TRẦU CAU


            Có những lúc ngồi tán gẫu với đồng môn hoặc thân hữu, tôi thường bộc bạch rằng cái thời ở ghế nhà trường, tôi rất … nhát gái! Vài người không tin… Chả thế mà khi nhận “lá thư nhỏ ”, tôi được kèm thêm một lời nhắn là: “Có bao nhiêu mối tình bấy lâu chôn chặt đây là lúc huynh phải thổ lộ ra, chứ bây giờ như cây đèn trước gió chưa biết tắt lúc nào, lỡ mang xuống tuyền đài thì uổng lắm”. Ngay cả Thầy LHT, người dẫn dắt tôi “trên mọi nẻo đường " cho đến hôm nay, cũng đã bảo: “Những người muôn năm cũ đâu, cho Thầy biết địa chỉ để gởi báo đến …” Có ai biết đâu rằng hồi đó ở lớp tôi chỉ là cái bóng mờ, lâu ngày phai nhạt biến mất trong trí nhớ mọi người: lần hội ngộ Nguyễn Hoàng tại Santa Ana, đến chào người bạn ngồi với nhau mấy năm ở Đệ Nhị Cấp Anh ngớ người ra!... Một người khác trong bài điểm danh nhân vật cùng lớp, tên tôi cũng lọt sổ! Có lần trên đường thiên lý gặp một đồng môn bảo rằng: “You nói là trọ học tại Góc Bầu, ngày nào cũng đi qua Cửa Tả, sao không biết tui . Tôi thành thật trả lời rằng: - Tôi biết giang sơn của chị ở khu vực ấy và trong nhà chị có đến mấy người đẹp, nhưng tôi ra khỏi cửa là đường ngay ngõ thẳng mà bước, chẳng dám nhìn ngang ngó dọc!... Và có lẽ mấy câu thơ của anh bạn viết tặng sau ngày rời trường đã nói lên hết những điều ấy:
Tao nhớ ngày xưa tao mê gái
Mãi miết rong chơi với bạn bè
Còn mày câm nín trong sách vở
Thế mà hai đứa mến nhau ghê!

Phải dẫn ra nhiều dữ kiện như thế để xác nhận một sự thật chẳng mấy vinh quang về cái nhút nhát của thời đi học! Thế mà, có lẽ do ức chế tâm lý, trong một phút cao hứng tôi đã dám cả gan đề nghị với Người Biên Tập rằng Bộ Từ Điển mười tập của Nguyễn Hoàng nên dành ra một số đặc biệt về … Tình Yêu Học Trò … Tôi mơ màng nghĩ đến một ngày đẹp trời nào đó mình sẽ cầm trên tay tập sách thật dày trong đó có vô số những chuyện tình âm thầm, éo le, lãng mạn giữa học trò với nhau hoặc với thầy cô! Chưa có trả lời của người chủ trương, tôi nhận được phản hồi từ nhiều phía có vẻ không mặn mà lắm: Một Đại Sư Tỷ cảnh báo: coi chung… bom nổ! Đỗ Tư Nghĩa đang tu tiên trên đỉnh  Langbiang khi nghe tin này đã ngần ngại: “Viết về những bậc nữ lưu thì tuyệt cú mèo nhưng coi chừng phải tế nhị, nhất là khi đề cập đến những cặp !” . Có những bí mật mang tầm cỡ quốc gia, sau một thời gian cũng được giải mã, trưng bày cho công chúng xem, thế mà chuyện nho nhỏ giữa hai người lại tuyệt đối dấu kín: sống để dạ chết mang theo! Quả là trái tim có những … chìa khoá riêng của nó! Tôi cụt hứng, ngồi thừ ra và tự ngẫm nghĩ, không chừng những ý kiến ấy lại có lý !  Sau những Hội Ngộ-Đặc San- Tập sách… hình như có một luồng sinh khí năng động len vào giữa những đồng môn Nguyễn Hoàng: Cường độ những cuộc nói chuyện đường dài tăng lên, mailbox đầy áp thông tin, có những vị đã tuyệt tích giang hồ nay xuất hiện, có những mảnh đời cơ cực tưởng như bị bỏ quên ở một góc khuất nào đó của xứ sở, những xác thân không lành lặn gậm nhấm mặc cảm xót xa… bỗng nhiên quên đi hoàn cảnh, đứng lên tìm về với nhau! Hội ngộ 04/08/2007 ngay trên sân trường cũ mang ý nghĩa sâu sắc của sự tìm về ấy, nó không giống bất cứ cuộc gặp mặt nào từng xảy ra ở nước ngoài hay những thành phố phía Nam. Không có điều kiện tham dự nhưng qua lời kể lại hoặc đọc nhiều bài viết tôi cảm nhận một cách trọn vẹn giờ phút hiếm có linh thiêng ấy. Mỗi người tuỳ ở góc độ của mình có những cái nhìn khác nhau để ghi nhận và trình bày …, bài viết Nhật Ký Một Chuyến Về của Liên Hưng đã tạo một cuốn hút mãnh liệt và theo tôi đó là bài tiêu biểu: không để ý nhiều đến những hoành tráng của ngày hội mà bằng quan sát kỹ lưỡng hoà với sự cảm nhận bén nhạy trước những sự kiện nhỏ nhặt, người viết đã đi vào mọi góc cạnh, bao quát mà tỉ mỉ, nhiều khuôn mặt nhưng là những tâm trạng riêng lẻ, ngôn ngữ như nguồn nước ở mạch ngầm bùng vỡ trào ra… quá khứ được mang về trọn vẹn và sống sâu sắc với nó trong khoảnh khắc hiện tại bằng tất cả sự đam mê nồng nhiệt hồn nhiên của một thời học trò, không bận tâm hệ luỵ với những ràng buộc giới hạn đời thường. Nó biểu hiện tài năng - bản lĩnh - đáo để của người viết … Hương vị và dư âm vẫn còn nhưng sự kiện được trả lại cho quá khứ để bước đi những bước hôm nay .

            Có người không xem quá khứ là một thứ đồ cổ, có dịp đem ra phủi bụi, nhìn ngắm, xong rồi để ngay ngắn vào tủ kiếng mà chiêm ngưỡng, đằng này lại níu kéo, khư khư giữ lại như một kẻ muốn “ăn mày dĩ vãng,” cộng thêm tính bảo thủ cực đoan của phía đối tác nên nhiều sự cố đã xảy ra: Có người bị “chớp đèn ” ngay tại hiện trường, người khác bị ticket mang bản án lưu đày, một anh phó nhòm hăng say ghi hình kỷ niệm cũng bị tai tiếng và trầm trọng hơn có một đấng tu mi nam tử không chịu nổi những tiếng điện thoại reo đã thẳng thừng tuyên bố một mất một còn….!

            Bằng những góp ý và thực tế xảy ra tôi âm thầm rút lại lời đề nghị với nhiều tiếc nuối nhưng vẫn bảo lưu ý kiến cá nhân… Bởi vì ở cái thời “nhụy hoa và ong bướm” nếu không thể hiện được giữa thanh thiên bạch nhật, hiên ngang sánh vai nhau dưới những lối mòn rợp bóng, đường trăng Thạch Hãn, bên những bờ ruộng của cánh đồng Hạnh Hoa bát ngát, hoặc tình tứ hơn đèo nhau trên phố Gia Long, qua Nhan Biều, lên Tích Tường Như Lệ, thì cũng có những lén lút liếc nhìn, ngại ngùng trao thư, hay đơn phương mang một bóng hình nào đó mà trằn trọc, cùng lắm như anh bạn tôi đêm đêm cầu nguyện vì đã yêu thầm một cô giáo. Thành ra tôi vẫn viết chuyện của mình, nhưng xin quý vị chớ nhìn đầu để mà tưởng bở, nó chẳng tròn trịa và nồng thắm gì đâu và chắc rằng những huynh - đệ - tỷ - muội lịch lãm tình trường chẳng tìm thấy mảy may xác xuất yêu nào trong đó !!!

            Qua năm đệ nhị tôi từ bỏ công việc dạy kèm cho một em lớp Đệ Thất ở khu vực Góc Bầu, về trọ nhà người quen sau chùa Tỉnh Hội, một xóm nhỏ chật chội, nên có dịp men theo con đường sát hông chùa để thoát ra ngoài. Thông thường thì cứ vài ba tuần tôi lên nhà một lần để lấy tiền ăn và thăm bà nội, những Thứ Bảy, Chủ Nhật ở lại sau buổi trưa thường lang thang dọc theo bờ sông lên đến đường Nguyễn Hoàng rẻ vào Trần Hưng Đạo, ghé những tiệm sách và cuối cùng vào phòng trọ của người bạn ở ngã ba Lê Văn Duyệt ngồi nói chuyện tào lao một lúc về đến nhà vừa kịp bữa ăn tối.

Bến đò ngang với Chợ Quảng Trị thời khắc tôi đi qua rất tấp nập, bà con hối hả vận chuyển hàng hóa xuống thuyền, đủ mọi âm thanh được nghe và nhiều màu sắc trang phục pha lẫn tạo cho bến đò một khung cảnh rất náo nhiệt… Qua nhiều buổi như thế tôi để ý thấy cách đó một khoảng dưới gốc cây phượng có cô gái đứng đợi, chẳng có vẻ gì là nôn nóng, đang thản nhiên để tầm mắt bâng quơ và chờ lúc vắng khách mới xuống thuyền… Bên cạnh là đôi quang gánh được úp lồng vào nhau một cách gọn ghẽ mà không có hàng hóa gì. Đôi quang gánh là một dụng cụ đặc biệt hình như được tạo ra để phục vụ cho công việc nào đó và cho một lứa tuổi nào đó sử dụng.. Chiếc đòn gánh mảnh mai được đẽo gọt chưa đến một nửa thanh tre như thông thường, đôi gióng lửng vừa tầm, trên đầu được thắt với dáng nét hoa văn rất độc đáo và bốn thứ được đặt trong đó không thể gọi bằng tên chính xác nào, nó là hình dạng giữa sàngrổ sưa, giữa trẹt mủng! Tất cả đều cùng một màu cánh gián, có thể đã được để trên giàn bếp lâu ngày… Cứ mỗi lần sắp đến bến từ xa tôi đi chậm lại quan sát, hình như cô ta chỉ mặc màu trắng hoặc màu trứng sáo bằng vải phin được cắt may rất khéo ôm gọn vào người, nhiều lần dợm dừng chân nhưng ngại ngùng rồi cất bước vì chưa tìm được lý do nào để tiếp cận! Cho đến một hôm nàng trở thế đứng và bắt gặp cái nhìn của tôi, không bỏ lỡ cơ hội hiếm có tôi bước lên lề đường..
            - Đợi đò về đâu vậy?
            Cô ta không trả lời mà đưa tay chỉ phía bên kia bờ sông chếch về hướng nam của Chùa Tỉnh Hội, tôi hiểu đó là làng Xuân An.
-        Sao không thấy mua gì cả?
-        Tui chỉ bán thôi chứ không mua.
Và để như giải thích cho câu nói ấy cô ta bảo:
- Đây là công việc hằng ngày của mạ tui, tui chỉ phụ cuối tuần, những gì cần thiết bà mua rồi.
Tôi bắt đầu mở câu nói muôn thủa của con trai con gái lần đầu gặp:
-        Tui nhìn cô quen quen, hình như thấy ở đâu đó.
Ngẫm nghĩ  một lúc cô ta bảo:
-        Có lẽ ông thấy ở trường Nguyễn Hoàng, tôi đang học lớp Đệ Tam A.
       
       Tôi cũng cho cô ta biết về lớp học của mình và vừa lúc đó có người kêu xuống thuyền để về chuyến cuối, cô xách quang gánh đi mà chẳng chào hỏi gì. Tôi được biết tên nàng là Hà. Chiếc thuyền máy chở chưa được mười người rẽ sóng băng qua sông, tôi ngẩn ngơ nhìn theo một lúc rồi tiếp tục lộ trình của mình trong lòng còn tiếc rẻ là chưa hỏi được những điều cần thiết… Suốt tuần lể ở sân trường đến giờ ra chơi, léng phéng gần khu vực lớp Đệ Tam nhưng không thấy nàng đâu cả, tự nhiên có một cảm giác bồn chồn ngóng đợi! Ngày Thứ Bảy ăn trưa xong tôi tìm cuổn sách đem trả cho người bạn rồi ra khỏi nhà, không còn thong thả bước như những lần trước. Đến nơi đã thấy nàng đứng ở đó, lần này thì bạo dạn hơn..
-        Hôm nay cô Hà ra sớm vậy?
-        Sao ông biết tên tui?
-        Thì hôm trước nghe người ta kêu!
Tôi kể cho Hà nghe là trong mấy ngày qua, có ý kiếm nàng ở trường nhưng không thấy, Hà nói đến giờ nghỉ thường chơi với mấy đứa bạn cùng làng ở khu vực lớp Đệ Tứ.
-        Lần trước tôi chưa kịp hỏi Hà đi chợ bán thứ gì.
-        Tui bán cau trầu. Mấy ngày này mạ tui ở nhà chuẩn bị hàng, đi mua hoặc dặn ở những làng lân cận, đôi triêng gióng này ba tui thắt để riêng tui sử dụng.
-        À  ra thế, hàng bán có dễ không?
-        Mau lắm, vì phần nhiều là bán sỉ, khách quen của mạ tui.
Câu chuyện tiếp tục chưa đến trong vòng một tiếng thì Hà phải xuống đò. Như thế là tôi đã nắm được một cách khái quát về công việc của nàng.
Cuộc gặp gỡ trở thành thông lệ nhưng thời gian kéo dài hơn và cái lịch về quê của tôi cũng thay đổi: mỗi tháng một lần chỉ trong ngày Thứ Bảy. Chúng tôi cảm thấy tự nhiên và nội dung câu chuyện bắt đầu đì vòng vòng. Hà bảo tôi là tuyệt đối không đến tìm ở sân trường vì sợ bạn bè chọc hoặc về méc mạ.
-        Vậy đứng ở đây thì sao?
-        Ngoài chợ, ngoài đường!... A nè, Tui thấy mấy ông ban C đi đâu cũng cầm theo cuốn sách, làm ra vẻ ta đây!  Thấy mà phát ghét!
-        Thì bọn tui thích đọc, Hà không thích sao?
-        Chỉ đọc sơ sơ như Phổ Thông Thời Nay.
-        Có khi nào đọc truyện không?
-        Rất ít, tại không có thì giờ vả lại đôi khi cảm thấy rắc rối nhức đầu!
-        Còn thơ thì sao, nhiều bài thơ tiền chiến hay lắm.
-        Cũng có, nhưng chỉ thích những bài có vần có điệu.
Hà kể là một lần đến nhà người bạn chơi, nghe mấy ông cùng lớp của anh trai bạn nói chuyện Thơ Văn mà chẳng biết mấy ông nói gì.. Cái chi mà mặt trời lấy mặt trăng rồi đâm nổ mặt trời…!
Tôi hứa là sẽ chép tặng Hà một tập thơ theo sở thích của nàng đặc biệt là Thơ Nguyên Sa mà tôi rất tâm đắc nhưng tự nhủ lòng là sẽ không đưa bài thơ trong đó ông ví người yêu với chó – mèo và cá ươn! Tôi kiếm những tờ pelure đủ màu, chọn bìa và đóng tập bằng mấy sợi len, định viết là Thơ Tình nhưng sau chỉ để chữ  thơ và ba chấm, ở dưới đề tặng Bích Hà.
Cuộc gặp gỡ một tuần hai lần ngắn ngủi như thế được kéo dài thỉnh thoảng gián đoạn vì thời tiết cho hết năm học, qua niên học mới tôi không còn thấy Hà đứng đợi ở góc cây nữa. Một hôm trong giờ ra chơi tôi nhận được miếng giấy do cô gái lạ mang lại trong đó Hà cho biết là bây giờ khỏi phải đi bán trầu cau, cám ơn về tập thơ và lập lại lời dặn ban đầu là không được gặp nàng trong trường.
Giữa tôi và Hà xem ra chưa hình thành một điều gì cả nhưng sự ra đi tự nhiên tạo ra một trống vắng xao xuyến bần thần!
Câu chuyện xảy ra đầu đuôi chỉ có như thế, nếu như hồi đó tôi cứ liều mạng đến ngay lớp tìm Hà thì chắc là đã có nhiều điều thú vị xảy ra. Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy hãy chớp lấy thời cơ đừng có thụt rò thụt ếc! Cơ hội tới là chụp ngay không rồi ân hận suốt đời! Như tôi - đến lúc nửa đời nhìn lại, vốn liếng tình yêu trong tay chẳng có là bao để ngậm ngùi.: Có một thời để… tiếc…!
Còn chuyện thời nay, lý do có người không tin cái phút nói thật về thời dĩ vãng, lại là  chuyện khác xin hứa sẽ kể bên tách café ở một nơi nào đó !!!