August 3, 2011

TRẢ CỤC ĐƯỜNG

                                                        

            Trong đời người, thời kỳ đẹp nhất có lẽ là giai đoạn đi kiếm tìm tình yêu . Cái lúc mà thể chất như những chồi non mơn mởn, phát tiết đầy đủ yếu tố vật lý toả ra phấn hương mời gọi . Không ai dạy bảo, chẳng cần kinh nghiệm, mỗi một đơn vị nhân loại tự mình tô son điểm phấn, an nhiên thanh thản bước vào mùa xuân. Thiên hạ đã dồn hết tim óc, tốn bao nhiêu giấy mực cho một chặng đường ngắn ngủi này, đó là một đề tài tiếp nối bất tận, không bao giờ đủ, không bao giờ hết ! Và đó cũng là thời kỳ quyết định một ràng buộc kết dính cho đến mãn đời !
            Có bao nhiêu cộng đồng dân cư là có bấy nhiêu phương thức, bấy nhiêu động thái và mỗi một ngôn ngữ cũng đã dành ra một số từ đặc biệt để mô tả diễn bày ! Tất cả như những ánh sao nhấp nháy dưới dải thiên hà tình yêu ! Ngay trong cộng đồng nhỏ tuỳ theo hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh hoạt, trình độ nhận thức để có những tìm kiếm khác nhau và cuối cùng từng cá nhân, từng cặp cũng có những nét độc đáo của họ !
            Người nông dân sống hiền hoà sau luỹ tre làng, giữa đồng ruộng bát ngát, bến nước dòng sông và một không gian bao la, họ không bị giới hạn tầm nhìn, ý nghĩ, những gì biểu lộ ra đều tự nhiên, chơn chất như hòn đất muôn đời nuôi sống họ. Quan niệm của người nông dân về những vấn đề liên quan là những biểu tượng gần gũi đơn giản gắn liền với cuộc sống thường nhật, ngay tình nghĩa vợ chồng cao quý cũng chỉ là bát cơm nguội và đương nhiên tình yêu cũng không đi ra ngoài cái bình thường ấy
            Cục đường tượng trưng cho sự thuần khiết nguyên chất, là khởi thuỷ cho mọi biến thái khác, tự nó trần trụi không che dấu, điểm trang, bao bọc, dưới mắt mọi người, nó an nhiên tự tại như thế, nhưng nó hàm chứa cả một trời hương vị ngọt ngào, chia sẻ mọi đắng cay, xoa dịu mọi oan khuất - là báu vật quý giá, nên khi trao tặng mang theo cả tấm lòng rất thật !
            Ngày xưa em ở trong nôi
            Anh thương Anh mến, Anh đôi cho Em cục đường
Đôi  là một động tác rất dễ thương, không thứ bậc giao-cho, không trịnh trọng ban-tặng, mà đôi: hồn nhiên, nhí nhảnh, biểu hiện cái thế bình đẳng giữa hai đối tác ! Nhưng đôi cho em cục đường ngày xưa chỉ là cách đặt vấn đề, là màn dạo đầu:
            Bây giờ Cha Mẹ không thương
            Một - hai - ba - bốn trả cục đường lại đây !
Anh đã có sự bắt đầu đâu mà biết rằng Cha Mẹ không thương và cá nhân Anh cũng không thể ngang nhiên, trực tiếp nói chuyện với các đấng ấy được, chẳng qua Anh tạo ra những cái cớ như thế để  đòi lại  cục đường - bằng sự quyết tâm, dứt khoát, biểu lộ cái bộc trực của người nông dân, mấu chốt là ở chỗ này.
            Trong văn nghệ dân gian thường thấy có những câu ca vô thưởng vô phạt "mây xanh - mây trắng - mây vàng" một cách nhập đề lung khởi để dạo đầu cho ý chính muốn trình bày, là tấm thảm lót đường trước cửa, là miếng trầu đầu câu chuyện, phản ảnh lối sống ý nhị trong giao tiếp, một cách thiết lập truyền thông sơ ngộ để tạo nên không khí tự nhiên thân tình với mọi người, đó là nét văn hoá cá biệt của dân tộc !
            Chàng thanh niên đã đến kỳ "thoát ngài hoá bướm" có một động lực nhè nhẹ nào đó bắt đầu thôi thúc, tâm hồn như mở ra để cảm nhận mọi thứ và con tim phát đi những tín hiệu đầu tiên, tín hiệu có thể đã dừng lại, đánh dấu một điểm nào đó, phản hồi để hướng dẫn bước chân chàng ! Nhưng tiếp cận cách nào đây: Không thể có cánh thư với chữ nghĩa diễm tình bày tỏ hoặc ngôn từ bóng bảy đầu môi, mà chỉ là những chuyện mưa nắng hai mùa, chuyện một thời chập chững ...! Chuyện rằng từ cái thuở em còn bé dại, Anh đã đến đùa giỡn bên tao nôi - chẳng có những đồ chơi kiểu cách, kẹo bánh đủ màu mà là cục đường xin Mẹ để tặng, cục đường là biểu lộ sự thương mến cảm tình ... như một dấu ấn, một chứng tích cho mơ hồ ràng buộc. Nhưng cục đường ngày xưa chỉ tròn trịa trong ý nghĩa đơn giản của... Cục đường ! Đến nay nó cũng theo em lớn dậy, hoá thân thành một thứ ngọt ngào khác, xa mà gần như huyền thoại, không nắm bắt nhưng luôn có mặt để cảm nhận, là chủng tử không tên gọi đã đến lúc nảy mầm ! Hãy TRẢ cho Anh thứ ấy, cùng tạo môi trường, chăm sóc tưới tẩm để kết nụ đơm hoa .
            Cô gái quê lớn lên trong nếp sống đùm bọc đầy nhân tính, lấy ơn nghĩa làm trọng, chan hoà sòng phẳng với mọi người, đó là nền móng căn bản, là bệ phóng cho cung cách hành xử cuộc đời tiếp nối ! Tình yêu cũng nằm trong phạm trù ấy . Trước mong cầu thiết tha bằng cả tấm lòng của chàng thanh niên mộc mạc, nàng không thể đành đoạn chối từ, trong mênh mông ý nghĩ, nàng mơ hồ nhận ra nhân duyên đã được hình thành từ một xa xăm nào đó !
Chẳng giăng hoa đèn kết, bủa vây chữ nghĩa ngôn từ phù phiếm, họ đến với nhau bằng chân chất bình dị, trao cho nhau tình nghĩa ngọt bùi, cùng nắm tay đi về một hướng, ở đó có bao điều đang chờ đón họ ...
            Ngày xưa em ở trong nôi
            Anh thương Anh mến Anh đôi cho em cục đường
            Bây giờ Cha Mẹ không thương
            Một - hai - ba - bốn trả cục đường lại đây !
Hành trình cục đường cuối cùng đã đến đích. Chàng và nàng đều thanh thoả với nợ - duyên.

                                                                                                       

THIÊN CHỨC

Tản mạn về Văn Học Dân Gian

Trong sách Sáng Thế Ký: “Người phụ nữ được tạo dựng từ xương sườn người nam, vì cùng thân xác nên đưa đến một liên hệ khắng khít hơn cả liên hệ giữa người nam và cha mẹ mình. Sự tạo dựng này như để đem lại cho nhân loại một yếu tố “không hoàn hảo”. Nếu không có yếu tố ấy thế giới sẽ không chạy tốt và khi người đàn bà nghe lời con rắn để  ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng để không phải chết như đã có lời răn trước đó là: Ông Bà sẽ không chết, nhưng Thiên Chúa biết rằng ăn trái cấm xong, mắt Ông Bà sẽ mở ra với biết bao sự hiểu biết và cảm nhận và rồi Bà Eva đem trái cấm ấy cho Ông ADong cùng ăn !

Điều hiểu biết và cảm nhận đầu tiên là những biểu hiện về Tình Yêu và như thế chúng ta cũng tự hiểu rằng nhân vật chủ động trong vấn đề này không ai khác hơn là Eva, người phụ nữ. Tuy nhiên, do yếu tố vật lý cấu thành thể chất và để ứng phó với môi trường chung quanh mà tồn tại, người đàn ông đã biểu lộ khả năng chinh phục của mình, từ đó tạo ra những quyền lực tuyệt đối, không chế toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội, đồng thời để thỏa mãn những tham ái, họ đặt ra những luật lệ ràng buộc, độc đoán, dưới nhiều nhãn hiệu , mỹ từ khác nhau, làm nên một tường thành kiên cố giam hãm, không cho người phụ nữ phát huy, thực hiện thiên chức của mình lúc ban sơ mà chỉ biết cúi đầu chấp nhận:
Cha mẹ đặt gióng sửa triêng
Phải sao chịu vậy chớ trùng triềng mà đau vai !

Người Mẹ là nạn nhân ban đầu nhưng khi nhập vào guồng máy rồi thì phải tiếp tục quay vòng theo nó, có khi rất hăng say và quyết liệt trong việc áp đặt những tư tưởng kiểm soát tình cảm vào đời con, đời cháu mình. Cha Mẹ ở đây là đại diện cho cả một quyền lực khổng lồ trong xã hội phong kiến.

Xin mở một dấu ngoặc để trở về lịch sử thời dựng nước: Vào đời Vua Hùng Vương thứ 3, công chúa Tiên Dung - người con gái độc nhất được Vua thương yêu nuông chiều, một hôm nàng đến bãi biển làng Chử Xá để tắm, tình cờ gặp Chử Đồng Tử và bị ngay “tiếng sét ái tình”. Nàng cho người về cung trình báo với Vua cha để xin làm lễ thành hôn với chàng, nhưng đời nào nhà vua chấp thuận: Một  “cành vàng lá ngọc” lại đi kết nghĩa trăm năm với một kẻ chẳng có “khố rách áo ôm! “ Mặc kệ, chàng và nàng vẫn cứ chung sống và lập thái ấp riêng rất trù phú. Vua tức giận cho quân lính đến hỏi tội, nhưng Chử Đồng Tử có thần thông và thế là chàng và nàng cùng bay về tiên cảnh, đó cũng là một cách thăng hoa, vượt thắng! Có thể nói Công Chúa Tiên Dung là người tiên phong trong thế chủ động tình yêu của người phụ nữ Việt Nam.

Trở về thời gian gần hơn, hãy nghĩ đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, tuyệt tác một thời bị lên án và cấm đọc (đàn ông chớ đọc Phong Thần, đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều). Nguyên nhân tại vì Thúy Kiều do tình yêu thôi thúc mà đã dám cả gan hai lần chui tường qua gặp Kim Trọng, một hành động bị cho là đồi trụy (nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm!).
                        Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường
                        Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
                        Bây giờ rõ mặt đôi ta
                        Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao !”
Kiều đã nắm bắt yếu tố: “Thiên - Địa – Nhân” sau khi gặp nhau trong hội Đạp Thanh, hai bên “tình trong như đã, mặt ngoài còn e “ nên Kim Trọng đến thuê nhà trọ gần nhà Kiều. Nàng biết, làm bộ đánh rơi trâm cài cho chàng nhặt được rồi được trả lại và sau đó, lúc gia đình về quê ngoại, Kiều khai bệnh ở nhà để tự do gặp Kim Trọng - nên trước mặt, qua mắt được cha mẹ để khởi đầu mối tình bất diệt với chàng.
...... Chứ không có như cô gái nào đó:
                        Hôm qua Anh đi trước cửa nhà Nàng
                       Thấy cha mẹ đập Nàng, Nàng khóc Nàng than
                        Nhà Nàng cửa sổ song loan
                        Anh muốn ghé lưng vô chịu
                        Trận đòn oan cho nàng
Nàng bị đòn là vi “đêm hôm” dám lén đi chơi với trai, một việc làm ngoài vòng lễ giáo, phải trừng trị thích đáng, đối với Cha Mẹ, chẳng oan chút nào cà. Nhưng điều gì đã kkiến cô liều mạng thế:
                        Em cứ tưởng Cha Mẹ đập Em vài ba roi
                        Chớ ai ngờ lại đập đến chín chục, một trăm roi
                        Em bò lăn, bò lóc
                        Em khóc đứng, khóc ngồi
                        Anh ơi, dù bầm lưng máu chảy
                        Em vẫn nguyện trọn đời yêu Anh
Thật dễ sợ, sự rung động của con tim đã vượt qua tất cả mọi đớn đau của thân xác, trong bối cảnh của thời ấy mà dám khẳng định như thế, chứng tỏ cường độ của tình yêu trong cô gái đã đạt đến mức độ nào! Sự biểu lộ ấy làm chàng trai vô cùng xúc động, để diễn bày những động thái tình yêu cho lòng nàng ấm lại:
                        Cha Mẹ đập em chín chục, một trăm roi
                        Đều vô một chỗ, máu đổ bầm da
                        Em ơi, đừng khóc, đừng có la
                        Rồi ta tìm nơi mô vắng vẻ
                        Để ta bóp với thoa lần lần
Hai người đã tìm một nơi đồng không mông quạnh để tránh con mắt dị nghị của thiên hạ, nhưng chẳng có chuyện gì dấu được sau lũy tre làng. Chuyện thoa bóp đêm qua, sáng ra cả làng đều biết, chàng và nàng lại gặp nhau, kiểm chứng xem có sơ suất ở “khâu” nào để ai đó thấy không, nhưng cả hai nhìn nhau mà lắc đầu:
                        Con mèo, con chó cũng không
                        Bụi tre một chắc, ngoài đồng chẳng có ai !
Thế nhưng vẫn có những anh chàng đã không “ghé lưng vô chịu” mà khi nghe người yêu kể lể sự đau đớn của mình lại không tin hay là giả đò thế để được nhìn ngắm những lằn roi trên da thịt nàng?
                        Vì chàng Thiếp bị đòn oan
                       Không tin thì dở áo: ngó lằn dọc lằn ngang trên mình
Mỗi cô gái có một thế đỡ khác nhau, nhưng tựu trung vẫn một lòng son sắt với người đã thệ ước.
                        Thầy Mẹ đánh thiếp đàng trước
                        Thiếp chạy ngõ sau
                        Đạo can trường há dễ bỏ nhau sao đành !

Cũng có cô gái liều lĩnh bỏ ngoài tai cái chuyện “Nam nữ thọ thọ bất thân”, thấy chàng rơi xuống nước đã không ngại ngùng:
                        Anh đi mô mà trợn trạo, trợn trạc
                        Trúc cổ xuống sông
                        Em đây liều ướt áo
                        Nhảy xuống sông bồng Anh lên!
Nàng đâu biết đó là thủ đoạn của chàng trai !
                        Anh giả đò lộn cổ xuống sông
                        Để được Em ôm, Em bế, Em bồng Anh lên !
Trong thời xa xưa ấy, chuyện tình yêu gắn liền với hôn nhân, chứ không “văn nghệ” như bây giờ. Không yêu thì thôi, đã yêu thì phải nên vợ thành chồng chứ không lơ tơ mơ gì cả:
                        Đã thương thì thương cho chắc
                        Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
                        Đừng như con thỏ nọ đầu truông
                        Khi vui đùa bóng, lúc buồn giỡn trăng
Và có một chuẩn mực cân nhắc trước khi thực hiện vấn đề đó là “môn đăng hộ đối”. Những chàng trai khốn khổ thương cảm cho thân phận: ngại ngùng, lúng túng - nhất là những người tứ cố vô thân - mặc dầu trong lòng đã yêu nàng da diết:
                        Một tay Anh cầm chai rượu
                        Một tay Anh xéc buồng cau
                        Đi ngõ sau Cha Mẹ chê Anh khó
                        Đi ngã trước chú bác nói Anh nghèo
                        Nhắm chừng duyên nợ cheo leo
                        Sợ nước to sóng vẫy
                        Liệu có chống chèo chi được không?
Nhưng trái tim thì không biên giới và có một ngôn ngữ riêng của nó, cô gái không bận tâm đến những vinh hoa tầm thường, sẽ tìm mọi cách để thuyết phục:
                        Cha Mẹ không thương Anh
                        Em đây miệng bẩm chân quỳ
                        Em lựa lời năn nỉ vân vi
                        Rồi thương em chừng mô thì thương Anh chừng nấy
                       Nỏ can chi mô mà Anh phiền
Cho dù là kín cổng cao tường với bao nhiêu răn đe nghiêm cấm, chuyện yêu đương vẫn cứ xảy ra theo những tình tự hẹn hò, trông ngóng, nhớ những ray rứt:
                        Trách anh sao vội ra về
                        Để cho giông bão ê chề trong em
Đôi khi chỉ xảy ra một phía: Tình yêu đơn phương, nàng yêu thầm, nhớ trộm nhưng chàng đâu có hay, đành ấp ủ hình bóng ấy trong suốt cả cuộc hành trình và đến khi “trăng tàn bóng xế” lại hạnh ngộ, biết ăn nói gì đây:
                        Tuổi thanh xuân thiếp nỏ gặp chàng
                        Bây giờ ông sóm, mụ sém, hai đàng gặp nhau !
Không ai biết thời gian từ khi Bà Eva dâng trái Cấm cho ADong ăn đến bây giờ là bao nhiêu triệu năm?! Trí óc con người cũng đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của trái đất chừng ấy lần !? Diễn tiến đó cũng đã tạo ra trong xã hội, nhiều khu vực, nhiều giai tầng có những cách sống, nhu cầu phục vụ và thụ hưởng hoàn toàn cách biệt.  Nhưng có một điều hình như không thay đổi, vẫn nguyên vẹn như ngày nào và hàng tỉ người đều có những động thái giống nhau, đó là Trái Tim với những yêu thương của nó do sự khởi động từ người phụ nữ.
Trải qua chặng đường thật dài thăng trầm dâu bể của kiếp nhân sinh, yếu tố đó có những lúc như chỉ âm ỉ dưới đống tro tàn, thân phận của họ, đôi khi bị đặt ở vị trí thấp kém nhưng vẫn nuôi dưỡng được hạt giống để có cơ duyên là nẩy mầm, đơm hoa kết trái. Chính họ là người thừa hưởng và mang hạt giống ấy từ Bà Eva để đi vào tương lai.
Vinh danh không phải chỉ là những lời nói suông, khi đưa ra những thực chứng về sinh hoạt lứa đôi trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn để hiểu được niềm tin, son sắt vào thế chủ động của mình như là người giữ lửa, người nắm thiên chức tình yêu. Phải ghi nhận và thực sự chia sẻ những điều ấy. Dâng tặng một bó hoa cũng chẳng nghĩa lý gì bởi vì chính người phụ nữ là một đóa hoa tuyệt đẹp của nhân loại rồi và phấn hoa đã tỏa ra để tạo nên môi trường mát dịu cho quả đất.
           
Ở khía cạnh vinh danh khác, xin mượn một câu nói của một người Mỹ: Women are half the population
and the mothers of the other half ! (Người đàn bà chiếm một nửa tổng số của nhân loại và là Mẹ của
một nửa còn lại).

                                                                                                    






                                                                                                    






                                                                                        

QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ TRONG THƠ PHAN KHÂM


Thân tặng chị Phi Hồng 


            Trong cuộc tiếp xúc công cộng với độc giả yêu thơ, đã có sinh viên hỏi một thi hào lãng mạn Pháp: Chúng tôi rất thú vị khi đọc thơ Ông, làm thế nào mà Ông có thể sáng tạo ra những điệp khúc tình yêu tuyệt vời như thế ?! Nhà thơ hóm hỉnh trả lời : " Thật ra thì tôi chắng có tài cán gì, tôi chỉ làm một công việc đơn giản là "lắp ghép" những ngôn từ mà các chị, các anh sử dụng hàng ngày ... " 
Quả đúng như thế, nhưng vấn đề là làm sao khi những chữ nghĩa ấy “sắp hàng" với nhau nó tạo nên cung bậc, nhịp điệu để đánh động được những tình cảm sâu lắng nhất trong tâm thức con người, tạo nên một hoà nhịp đồng cảm, một chấn động xuyên suốt cả tâm lẫn thân độc giả ! Người nghệ sĩ được thiên phú cho khả năng như thế, họ có một giác quan bén nhạy khi tiếp xúc với cảnh quan sự vật mà người thường không thể có …
Chúng ta biết nhiều đến Phan Khâm trong thời gian 5 năm trở lại, thơ anh trải rộng trên nhiều địa hạt: tình yêu, chiến tranh, quê hương, thời sự …, tuỳ theo cảm nhận của mỗi người để có sự hứng khởi trong từng khu vực ấỵ. Riêng tôi, với quê hương, Phan Khâm có một chỗ đứng đặc biệt, không lẫn lộn. Quê hương như là một phần của đời sống anh, đeo đuổi bám sát không ngơi nghĩ, bất cứ lúc nào, ở đâu, những tình cảm ấy cũng có thể được diễn đạt ra hết lòng không sáo mòn, cường điệu:
Xuân về mấy độ tha phương nhỉ
Quảng Trị gần thương Quảng Trị xa

            Quê hương trong anh là sự khắc khoải, nhớ mong là niềm chua xót cho những ngày dài triền miên kham khổ :
Nhớ con ốc gạo vàng xanh
Quê hương ơi hỡi lênh đênh tháng ngày !

            Hai câu thơ minh họa cho bức ảnh ghi lại cảnh một dáng người với chiếc nón lá, còng lưng trên đồng ruộng để bắt ốc dưới cái nắng chói chang mùa hạ, bức ảnh là bìa sau của Đặc San Xuân QT năm 97, có lẽ ít ai để ý nhưng đã gây một ấn tượng sâu đậm trong tôi, dai dẳng.

            Hình ảnh quê hương QT trong anh chỉ là những sự vật bình thường nho nhỏ nhưng ở bên này gợi lên bao nỗi xót xa:
Nhìn cột mốc trăm nỗi nhớ nhà
Hăm hai cây số tới Đông Hà
  
               Nhiều khi người ta nghĩ về QT thường nói đến những núi cao, sông dài, những sự kiện lịch sử, những trận chiến ác liệt. Với Phan Khâm nhắc đến giòng sông Thạch Hãn là sự góp nhặt của những giọt mồ hôi:
Mồ hôi của đá tuôn ra
Cho giòng sông mẹ thăng hoa đời đời

Hay chỉ là một bến lội trên nhánh sông nào đó:
Qua Nhĩ Trung mình ghé về Nhĩ Hạ
Nhớ ngày xưa khi phải lội qua cồn
Nước có trong cho thỏa lòng mát dạ
Thần thánh ơi mắt đắm đuối đâu còn

      Nếu có dịp được trở về, đi ngược thời gian, tuổi học trò tung tăng những ngày hè với bè bạn, cũng chỉ muốn tìm lại những cái đơn giản nhất:
Mùa Xuân nào về Đâu Kênh, Chợ Cạn
Đường trăng xưa qua An Trú, Đạo Đầu
Một thuở nào cùng năm ba bè bạn
Ăn banh dầy nếp dẽo quết mo cau

Hay vài quả ổi, củ khoai nơi khu chợ miền quê :
Mùa Xuân nào mình về  thăm Cam Lộ
           Ghé Chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai
Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ
Mít ổi trong vườn mận chín cho ai

 Một dấu chân nho nhỏ trên cát:
Gót chân tròn trịa còn in dấu
Mỹ Thuỷ xa xa sóng bạc đầu

            Nói đến QT là nói đến sự cay nghiệt, trắc trở, thường xuyên đói nghèo, như định mệnh với một ý nghĩ đã hằn sâu trong tâm khảm, QT là đứa con gánh hết mọi tai ương bất hạnh để anh chị em mình được nhẹ gánh, thảnh thơi trong cuộc đời:
Mẹ ơi ! Mẹ sao đau buồn khôn xiết
Quê hương mình nơi khúc ruột miền Trung

Giêng hai cắn đốt ngón tay
Không còn máu chảy chỉ bày xương ra

Khuya khoắt, chắt nước giếng Bàu
Gió Lào tháng sáu rám tàu chuối xanh

            Một đặc trưng cá tính của người QT là tình nghĩa, có thể do nghiệt ngã quá nên con người cần nhau, gần nhau hơn chăng?
Mùa xuân nào còn se lạnh heo may
Qua mùa đông tháng giá những thân gầy
Vẫn còn nhớ tiếng ai ru hời hỡi
Cũng xin đừng muối mặn bỏ gừng cay

Và sự cam chịu:
Dọc đường gió bụi chôn chân đó
Nắng giải mưa dầu thật xót xa

Những tình nghĩa ấy càng về chiều càng gắn bó và thôi thúc chúng ta một chuyến trở về:
                                   Mùa xuân nào tâm tư mình lắng đọng
Giữa ruộng đồng hồn thanh thản hương quê
Dương Lộc, Bố Liêu, Vân Hòa, An Lộng
Cắt rốn chôn nhau nguồn cội để ta về

                                    Sự trở về là giấc mơ của người đi xa, cũng là sự đợi chờ của người ở lại, có thể để làm một điều gì đó, mặc dầu:
Một con én mùa xuân không làm nổi
Em vẫn chờ muộn mấy cũng không sao

            Quảng Trị là một chiến trường lớn, khốc liệt với bao tang thương đổ nát, đã có hàng trăm người viết kể cả ngoại quốc trình bày sự kiện này dưới nhiều thể loại khác nhau… Các trường Đại học, trường quân sự, những nhà nghiên cứu chiến lược đang tìm hiểu về mặt trận nàỵ Đối với người QT trước sau vẫn chỉ là niềm đau:
Đêm Gio Linh. Đêm hỏa châu
Đêm mắt đêm của cô dâu mới về

            Không một hình ảnh nào phủ phàng bằng. Những háo hức, trông đợi ngày hội tụ của tình yêu, của hạnh phúc, nhưng cô dâu đã ngỡ ngàng:
Mắt kẽm gai khóa phòng the
Tay anh đang níu bên kia chiến hào

            Không dài dòng văn tự, chỉ mấy câu thôị Phan Khâm đã cảm nhận và diễn đạt dùm ta bao điều mất mát không thống kê được và cuối cùng chỉ biết chắp tay cúi đầu:
Xin người mặc niệm chiến tranh
Giang sơn tổ quốc ngọn ngành quê hương

            Hình tượng thường xuyên ám ảnh, chiếm trọn một phần trí nhớ anh là trường xưa bạn cũ:
Ký ức ta ơi hai tiếng Nguyễn Hoàng
Dấu chân ai giờ đã rêu phong phủ
Tuổi học trò nhiều nỗi nhớ vương mang

             Trong sự hủy diệt đổ nát chung của QT, những ngôi trường đã gây nhiều cảm xúc mạnh cho bao thế hệ học trò, bởi ở đay là nơi ghi dấu một quãng đời êm đềm thơ mộng nhất:
Em học Bồ Đề anh Nguyễn Hoàng
Một còn dấu tích một tan hoang
Đường đời vạn nẻo tình muôn ngả
Vẫn quạnh hiu đây những bẽ bàng

Trường xưa đổ nát mùa chinh chiến
Ấp ủ sao đầy nỗi chứa chan

Chinh chiến hề, chinh chiến quê hương
Một thuở Nguyễn Hoàng rất dễ thương

            Qua bao thăng trầm của thế sự, trôi nổi với thời gian, những ký ức ấy với chiếc áo trắng NH vẫn được trân trọng cất giữ:
Áo trắng nữ sinh thuở Nguyễn Hoàng
Vẫn còn gió lộng với thời gian…

            Thơ Phan Khâm không dài, thường là bốn câu, có khi chỉ hai câu, nhưng đã cô đọng được hết ý của anh, ngắn mà đủ. Khi đọc lên một cảm giác xốn xang nhức buốt… tôi liên tưởng đến những đặc điểm của quê mình đó là một thứ ớt-ma-tiêu-sọ Khe Sanh, Cùa hay là nước mắm nhĩ Cửa Tùng, Cửa Việt .
            Thơ Phan Khâm đã thực sự đi vào lòng người QT đặc biệt là bài “Mùa Xuân nào mình về thăm Quảng Trị.” được nhiều người ưa thích. Chúng ta đã nghe chị Diệu Tân diễn ngâm trong buổi ra mắt kỷ yếu Quảng Trị ở Philadelphia, hay trong các buổi sinh hoạt văn nghệ bỏ túi, chị Phi Hồng cũng đã trình bày trong những hội Xuân tại Washington DC và Minnesota….. nghe rồi nghe lại vẫn cảm thấy bùi ngùị Mà không hẳn chỉ có thế, thơ anh còn được nhiều người ở nhiều nơi biết đến. Những câu thơ của Phan Khâm qua phóng bút của nhà thư họa Vũ Hối là sự kết hợp hài hòa tạo nên cảm xúc thanh tao, ý vị được nhiều người trân quý . Đặc biệt nhà văn Hồng Trần, biên tập chương trình văn học nghệ thuật của Đài Phát Thanh Houston, TX trong tiêu đề “ Những giòng sông quê hương” đã dành một phần rất dài để giới thiệu bài thơ “Trong Trí Nhớ Giòng Sông” của anh. Bài thơ được phổ nhạc, đã có nhiều người hát, trong phần đọc và diễn ngâm các cô Thục Đoan và Nam Anh đã trình bày với tất cả sự chân thành. Như một sự chia sẻ, sau khi nghe xong tôi đã gởi đến anh những giòng như thế này: “Trong đời nhà thơ, mọi người hơn một lần viết về giòng sông, giữa hàng trăm giòng sông đang âm thầm hay cuồn cuộn chảy, Hồng Trần đã nhận ra “giòng sông trong trí nhớ “ có lẽ nó đang lấp lánh ngàn ánh sao trời ?! “.
            Góp lại tất cả những cảm niệm của anh về Quảng Trị – cũng chỉ là những nhỏ nhặt thường lệ : một chút nắng, Phan Khâm đã bày tỏ được nhiều điều:
Tôi về gặp nắng Đông Hà
Mười năm xa cách nắng già hơn xưa
Em nhìn tôi ở quán dừa
Tôi nhìn em lại cũng vừa khát khao
Nắng cho tôi ngọn gió Lào
Làm quà tái ngộ thấm vào tâm can
Nghe đời kể chuyện thế gian
Bỗng dưng trắng xóa nắng vàng trong tôi
Con ve dứt tiếng bồi hồi
Lâu lâu nuốt trọn mồ hôi của mình
Qua cầu nắng gió đinh ninh
Muộn màng nhắc chuyện nghĩa tình Hiếu Giang
Em làm tôi nhớ Nguyễn Hoàng
Ngôi trường đi xuống, bẽ bàng đi lên

            Giáo sư Phạm Công Thiện đã có lần nói rằng: Những-bài-thơ-đích-thực là tiếng lòng thổn thức, là máu thịt của thi sĩ, chúng ta có cảm nhận được hay không mà thôi, chứ không được phép phê bình. Điều đó không phải là không hợp lý.
            Cảm ơn nhà thơ Phan Khâm trong thiên chức của mình đã diễn đạt dùm những bức xúc, quay quắt của bao người thương nhớ về quê hương. Ở vị trí khiêm nhường của một người yêu thơ anh, khi trình bày những ý kiến của mình đương nhiên không tránh được những điều chủ quan. Tuy thế tôi cảm thấy thanh thản trong lòng đã phần nào hoàn thành được trách nhiệm công dân của một độc giả .